Chuyển đến nội dung chính

TÌM KIẾM NHANH

Công ty bảo hiểm nhân thọ nào lừa đảo?

Theo như thống kê thì chỉ khoảng 6-7% người dân Việt Nam có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Vậy khoản 93-94% còn lại hoặc là không đủ điều kiện về sức khỏe để tham gia; hoặc là chưa có những hiểu biết về bảo hiểm nhân thọ; hoặc là chưa tin tưởng vào bảo hiểm nhân thọ...

Chúng ta có quyền nghi ngờ những gì chúng ta sắp làm, nhưng phải có cơ sở chứ không thể nghe thông tin vĩa hè mà lại a dua. Vẫn còn đâu đó những người đã có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nhưng rất tiếc khi xảy ra sự kiện lại không được bồi thường; và thật đáng tiếc hơn là có trong tay hợp đồng bảo hiểm nhân thọ mà khi xảy ra sự kiện bảo hiểm lại không biết sự kiện đó được chi trả bồi thường có trong hợp đồng đã tham gia,...

1. Công ty Bảo hiểm nhân thọ có lừa đảo không?

Công ty bảo hiểm nhân thọ chịu sự giám sát của bộ tài chính, tất cả các gói bảo hiểm được xây dựng và tung ra thị trường điều phải thông qua và có sự cho phép của bộ tài chính. Vì vậy bộ tài chính sẽ không thể cho phép một công ty bảo hiểm tham gia cài người tham gia bởi những điều khoản hợp đồng để lừa đảo. 

Vậy đâu đó vẫn còn thông tin bảo công ty bảo hiểm nhân thọ lừa đảo trên các trang báo cũng như mạng xã hội, vấn đề này được giải thích như thế nào? 

Tự khai thiếu trung thực tình trạng sức khỏe của người tham gia

Trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có mục một số mục yêu cầu người tham gia phải tự khai trung thực về thông tin và tình trạng sức khỏe. Đáng chú ý nhất là mục tình trạng sức khỏe hiện tại, nếu như người tham gia đang mắc một bệnh nào nó mà không khai trong hồ sơ, nếu như sau khi hợp đồng phát hành mà người tham gia phải nhập viện điều trị thậm chí tử vong do bệnh có sẵn trước khi ký kết hợp đồng bảo hiểm. Thì bên công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ căn cứ vào hồ sơ bệnh án do bệnh viên cung cấp. Như vậy thấy rằng người tham gia đã vi phạm hợp đồng và công ty bảo hiểm nhân thọ có quyền từ chối tri trả là đúng. Tuy nhiên cách xử lí như vậy chỉ xảy ra ở những công ty bảo hiểm nhân thọ xem nhẹ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Nếu một công ty uy tín và đưa quyền lợi người tham gia thì phải thông qua bước xác minh hồ sơ bởi đội ngũ bác sĩ và có thể tiến hành khám tổng quát sức khỏe cho người tham gia trước khi phát hành hợp đồng.

Tư vấn viên thiếu chuyên nghiệp

Người tham gia bảo hiểm nhân thọ gặp phải tư vấn viên chuyên nghiệp, nắm vũng kiến thức về bảo hiểm nhân thọ, trung thực khi tiến hành tư vấn những quyền lợi và nghĩa vụ của người tham gia. Một tư vẫn viên chuyên nghiệp không những tạo được niềm tin cho bạn mà còn thiết kế gói bảo hiểm phù hợp nhất để bảo vệ gia đình bạn với chi phí thấp nhất và quyền lợi bảo hiểm cao nhất có thể; Tư vấn viên chuyên nghiệp sẽ giúp bạn giải quyết những thắc mắc gặp phải khi đọc những thuật ngũ chuyên ngành trong hợp đồng bảo hiểm.

Vì lợi ích cá nhân, không ít tư vấn viên thiếu trung thực, với những lời quảng cáo có cánh về quyền hợp, lãi suất,....làm hoa mắt người tham gia để có hợp đồng bảo hiểm. Tinh vi hơn thì người tư vấn thiết kế gói bảo hiểm với phí đóng hàng năm lớn nhưng quyền lợi không phù hợp với đối tượng tham gia.Trong khi đó người tham gia cần bảo vệ những rũi ro cao của mình trước tiên, nếu có nhiều tiền sẽ bảo vệ những rủi ro thấp hơn, mà người tư vấn thiết kế ngược lại; Hoặc thay thì tư vấn mua bảo hiểm cho người trụ cột (khi gia đình chưa có hợp đồng bảo hiểm cho người trụ cột) thì lợi dụng vào tình yêu thương vô bờ bến của những cha mẹ dành cho con của người Việt để tư vấn mua bảo hiểm cho con trong khi người trụ cột gia đình chưa được bảo vệ bằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ.

2. Nhưng lưu ý khi tham gia bảo hiểm nhân thọ


Như đề cập ở trên, bạn hãy tin tưởng và chuyển giao rủi ro của mình cho công ty bảo hiểm nhân thọ. Rủi ro thì không ai biết trước, và cũng không thể tránh né được rủi ro. Vậy chúng ta phải chấp nhận một cách chủ động bằng cách tham gia bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên trước khi tham gia cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Tìm công ty bảo hiểm nhân thọ uy tín, có đội ngũ tư vẫn viên chuyên nghiệp để tham gia.
- Chọn tư vấn viên phải chuyên nghiệp để nhờ tư vấn và thiết kế gói bảo hiểm phù hợp nhất với gia đình.
-  Chia sẻ việc tham gia bảo hiểm nhân thọ với tất cả thành viên trong gia đình.
- Trung thực trong quá trình khai trong hồ sơ bảo hiểm nhân thọ.
- Chỉ ký vào hồ sơ,bảng minh họa khi đã hiểu hết những nội dung mà tư vấn viên chia sẻ cũng như được giải đáp thỏa đáng những thắc mắc của mình từ tư vấn viên.
- Khi thanh toán phí bảo hiểm cần yêu cầu xuất phiếu thu theo mẫu do bộ tài chính phát hành hoặc thanh toán trực tiếp cho công ty bảo hiểm qua chuyên khoản ngân hàng.

Hãy chia sẻ nhưng lợi ích  cũng như tính nhân văn của bảo hiểm nhân thọ đem lại. Hãy giảm gánh lo tài chính cho người người phụ thuộc (con của chúng ta) khi chúng ta không may gặp phải rủi ro bằng cách tìm hiểu và tham gia ngay bảo hiểm nhân thọ!

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tính số nhiễm sắc thể, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân và giảm phân

Loài ong mật có bộ NST lưỡng bội 2n=32. Hợp tử của loài trải qua nguyên phân. Hãy cho biết có bao nhiêu NST, crômatit, tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì của quá trình nguyên phân? Để giải bài tập sinh học trên trước hết các bạn cần nhớ một số vấn đề sau: NST nhân đôi ở kì trung gian (pha S) trở thành NST kép, tồn tài trong tế bào đến cuối kì giữa. Vào kì sau, NST kép bị chẻ dọc tại tâm động, tách thành 2 NST đơn, phân li đồng đều về 2 cực tế bào. Crômatit chi tồn tại ở NST kép, mỗi NST kép có 2 crômatit. Mỗi NST dù ở thể đơn hay kép đều mang một tâm động. Vậy có bao nhiêu NST trong tế bào thì sẽ có bấy nhiêu tâm động. Do vậy, gọi 2n là bộ NST lưỡng bội của loài, số NST, số crômatit, số tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì quá trình nguyên phân như bảng sau: Kì trung gian Kì đầu Kì giữa Kì sau Kì cuối Số NST đơn 0 0 0 4n 2n Sô NST kép 2n 2n 2n 0 0 Số crômatit 4n 4n 4n 0 0 Số tâm động 2n 2n 2n 4n 2n T

Tính số loại và tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con

Vận dụng toán xác suất để giải nhanh các bài tập sinh học phần quy luật phân li độc lập như: xác định số loại kiểu gen, kiểu hình ở đời con hay tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con trong các phép lai khi biết kiểu gen của bố mẹ mà không cần viết sơ đồ lai. Theo quy luật phân li độc lập ta hiểu rằng: một phép lai có n cặp tính trạng, thực chất là n phép lai một cặp tính trạng. Như vậy khi đề bài cho biết kiểu gen có bố mẹ và tuân theo quy luật phân li độc lập thì ta chỉ cần dung toán xác suất để xác định nhanh số loại cũng như tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con theo quy tắc sau: Tỉ lệ KG khi xét chung nhiều cặp gen bằng các tỉ lệ KG riêng rẽ của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau. Số KH khi xét chung nhiều cặp tính trạng bằng số KH riêng của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau. Ví dụ:  Cho biết A - hạt vàng : a- hạt xanh; B- hạt trơn : b - hạt nhăn; D - thân cao : d- thân thấp. Tính trạng trội là trội hoàn toàn. Phép lai P: AabbDd x AaBbdd  sẽ cho số loại và tỉ lệ kiểu g

Vai trò của thận và gan trong cần bằng áp suất thẩm thấu

Môi trường bên trong cơ thể sinh vật (nội môi) nói chung và cơ thể người nói riêng luôn được duy trì ổn định. Ví dụ như người trưởng thành có nhiệt độ thân nhiệt khoảng 37,5 độ C, áp suất thẩm thấu trong máu và dịch mô khoảng 0,9atp, nồng độ gulozo (đường) trong máu khoảng 108 - 140mg/dl, nồng độ pH khoảng 7.35 – 7.45 ... Điều gì xảy ra nếu như các điều kiện lí hóa bên trong cơ thể chúng ta không còn ở trong vùng bình thường? Khi cơ thể chúng ta nhiệt độ quá cao hay quá thấp; điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ đường trong máu luôn quá cao hay quá thấp; điều gì sẽ xảy ra khi áp suất thẩm thấu trong cơ thể luôn cao hay thấp hơn mức bình thường? Câu trả lời chung là cơ thể không còn khỏe mạnh (hay là đã bị bệnh). Trong nội dung bài này chúng ta cùng nhau tìm hiểu có chế để cân bằng áp suất thẩm thấu trong trong môi trường bên trong cơ thể mà cụ thể là trong máu (dịch tuần hoàn). Áp suất thẩm thấu trong máu phụ thuộc vào lượng nước và nồng độ các chất hòa tan trong máu mà chủ yếu là hà

Tính tổng số nuclêôtit trong ADN hay Gen

ADN là một đại phân tử sinh học được cấu trúc theo nguyên tắc đa phân các đơn phân là nucleotit. Trong tự nhiên thì phân tử ADN có nhiều dạng cấu trúc nhưng dạng phổ biến nhất là cấu trúc ADN theo dạng B ; Trong chương trình sinh học phổ thông thi chúng ta cũng chủ yếu bàn đến cấu trúc dạng B của ADN mà thôi. Nếu bạn chưa biết cấu trúc ADN dạng B như thế nào thì hãy xem trước bài viết cấu trúc dạng B của phân tử ADN ; Còn ở đây chúng ta chủ yếu bàn đến cách vận dụng lý thuyết về ADN vào giải những bài tập cụ thể liên quan đến cấu trúc ADN dạng B. Trước hết chúng ta bắt đầu với dạng bài tập đơn gian nhất trong series bài vết giải bài tập ADN cơ bản , và đây là bài đầu tiên sẽ hướng dẫn cách tính số nuclêôtit trong phân tử ADN (hay gen) khi biết một trong các đại lượng như: chiều dài ADN, khối lượng ADN, số liên kết hóa trị, số vòng xoắn. Sau đây chúng ta sẽ xem ví dụ về tính số nuclêôtit của ADN (có thể là phân tử ADN hoàn chỉnh hay chỉ là một đoạn ADN) cho từng trường hợp cụ thể:

Số lượng tế bào con, số NST cần cung cấp, số thoi vô sắc xuất hiện (hoặc bị phá hủy) qua nguyên phân

Để làm tốt bài tập sinh học dạng này các bạn cần xem lý thuyết về nguyên phân trước. Ngoài ra có thể xem thêm dạng bài tập về tính số NST, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân . Sau đây mình sẽ hướng dẫn các bạn làm bài tập tiếp theo: dạng bài tập về tính số lượng tế bào con, số NST cần cung cấp, số thoi vô sắc xuất hiện (bị phá huỷ) qua nguyên phân. Trước tiên các bạn cần hiểu và nhớ một số công thức sau Số tế bào sinh ra qua nguyên phân: + Một tế bào qua k lần nguyên phân sẽ hình thành $2^k$ tế bào con. + a tế bào đều nguyên phân k lần, số tế bào con được tạo thành là: $a.2^k$ tế  bào. Số NST đơn môi trường cần cung cấp: + Một tế bào lưỡng bội (2n NST) qua k lần nguyên phân, số NST đơn môi trường nội bào cần cung cấp: $2^k.2n-2n =  (2^k-1)2n$. + Vậy, a tế bào có 2n NST đều nguyên phân k lần, môi trường cần cung cấp số NST là: $a.(2^k-1)2n$. Số thoi vô sắc xuất hiện, bị phá hủy: + Thoi vô sắc xuất hiện ở kì trước, bị phân hủy hoàn toàn vào kì cuối. Vậy có ba

Sự khuếch tán, thẩm thấu và vận chuyển chủ động

Tế bào là hệ thống mở thường xuyên phải thu nhận năng lượng và vật chất từ môi trường bên ngoài cho các hoạt động sống liên tục của mình. Chức năng quan trọng nhất của tế bào là điều hòa sự qua lại của các chất giữa bên trong và bên ngoài màng tế bào. Tất cả các chất di chuyển vào hoặc ra tế bào điều phải qua vật cản là màng, mà nó thực hiện chức năng chuyên biệt đó một cách có chọn lọc và định hướng. Kiểm soát việc đó được thực hiện bằng hai cách: sử dụng quá trình vận chuyển thụ động như khuếch tán, thẩm thấu và sự vận chuyển chủ động. Xem thêm: Vận chuyển các chất qua màng sinh chất Khả năng đi qua màng của các chất phụ thuộc vào kích thước phân tử, điện tích, độ hòa tan của các phân tử trong chất béo. 1. Khuếch tán và thẩm thấu Khuếch tán l à hiện tượng các phân tử của một chất di chuyển từ nơi có nồng độ cao đến nơi có nồng độ thấp hơn của chất đó. Quá trình này xảy ra không tiêu tốn năng lượng. Tốc độ khuếch tán phụ thuộc vào kích thước, hình dạng phân tử, điện t

Chu kỳ tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân

Trong chương trình sinh học lớp 10 thì nội dung về chu kỳ tế bào, nguyên phân và giảm phân các em cần học kỹ và làm bài tập liên quan. Đây là kiến thức hết sức quan trọng để có thể học tiếp những kiến thức liên quan ở lớp tiếp tiếp theo. Cơ chế nguyên phân Cơ chế giảm phân Kiến thức các em đọc ở sách giáo khoa sinh học lớp 10, ở phần này tác giả chỉ trích một số câu hỏi thường gặp trong nội dung chuyên đề chu kỳ tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân. Câu 1. Trình bày khái niệm và nêu những giai đoạn của chu kì tế bào? – Chu kì tế bào là khoảng thời gian giữa 2 lần phân bào liên tiếp. Một chu kì tế bào bao gồm kì trung gian và quá trình nguyên phân. Kì trung gian gồm ba pha theo thứ tự là G1 , S, G2, trong đó pha G1 là thời kì sinh trưởng chủ yếu của tế bào; pha S diễn ra sự nhân đôi của ADN và nhiễm sắc thể. Kết thúc pha S, tế bào sẽ chuyển sang pha G2, lúc này tế bào sẽ tổng hợp tất cả những gì còn lại cần cho quá trình phân bào. Nguyên phân diễn ra ngay sau pha G2

Cấu trúc và chức năng của ARN

ARN là bản sao từ một đoạn của ADN (tương ứng với một gen), ngoài ra ở một số virút ARN là vật chất di truyền. 1. Thành phần: Cũng như  ADN , ARN là đại phân tử sinh học được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân, đơn phân là nuclêôtit . Mỗi đơn phân (nuclêôtit) được cấu tạo từ 3 thành phần sau: Đường ribôluzơ: $C_5H_{10}O_5$  (còn ở ADN là đường đềôxi ribôluzơ  $C_5H_{10}O_4$ ). Axit photphoric: $H_3PO_4$ . 1 trong 4 loại bazơ nitơ (A, U, G, X). Các nuclêôtit chỉ khác nhau bởi thành phần bazơ nitơ, nên người ta đặt tên của nuclêôtit theo tên bazơ nitơ mà nó mang. 2. Cấu trúc ARN:  ARN có cấu trúc mạch đơn: Các ribônuclêôtit liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị giữa  $H_3PO_4$  của ribônuclêôtit này với đường  $C_5H_{10}O_5$  của ribônuclêôtit kế tiếp. Tạo nên một chuỗi pôli nuclêôtit (kích thước của ARN ngắn hơn rất nhiều so với kích thước của ADN. Có 3 loại ARN: - ARN thông tin (mARN): sao chép đúng một đoạn mạch ADN theo nguyên tắc bổ sung nhưng tr

Quá trình tiêu hóa ở động vật ăn thực vật nhai lại

Thực vật là loại thức ăn nghèo dinh đưỡng và khó tiêu hóa (trong thức ăn chủ yếu là xenlulôzơ; ít tinh bột và prôtên,..). Để thích nghi với loại thức ăn có đặc điểm như vậy thì động vật ăn thực vật nói chung và động vật ăn thực vật có dạ dày 4 túi ( động vật có dạ dày 4 ngăn hay động vật nhai lại ) cũng có những đặc điểm cấu tạo cũng như quá trình tiêu hóa phù hợp. Trâu, bò, dê, cừu lấy thức ăn (cỏ) và nhai qua loa, sau đó nuốt thức ăn vào dạ cỏ. Khi nghỉ ngơi, chúng ợ thức ăn từ dạ cỏ lên miệng và nhai lại rất kĩ (gọi là động vạt nhai lại). Ở nội dung bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về quá trình tiêu hóa ở động vật ăn thực vật nhai lại. Tiêu hóa ở miệng Hàm răng của động vật nhai lại phù hợp với bứt cỏ và nghiền thức ăn. Ở trâu, hàm trên có tầm sừng thay cho răng cửa và răng nanh, rặng cạnh hàm và răng hàm. Hàm dưới có răng cửa và răng nanh giống nhau, có tác dụng tì cỏ vào tấm sừng hàm trên. Giữa răng của, răng nạnh với răng cạnh hàm, răng hàm có khoảng trống tạo thuận lợi c

Quá trình chuyển hóa nitơ trong đất

Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu  có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thực vật (cây). Nhưng rễ cây chỉ hút được nitơ ở dạng NH4+ và NO3-. Nhưng trong không khí thì có các dạng nitơ chủ yếu N2 ( ngoài ra còn có dạng NO hay NO2 nhưng gây độc cho cây ) còn trong đất thì chủ yếu nitơ trong các hợp chất hữu cơ của xác động thực vật để lại. Do đó, để cung cấp nitơ cho cây thì cần phải chuyển các dạng nitơ N2 cũng như nito trong các hợp chất có chứ nitơ thành dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NH4+ hoặc NO3-). Trong phạm vi bài này chúng ta cùng nhau tìm hiểu và phân tích thêm các quá trình chuyển hóa nitơ trong đất . Còn quá trình chuyển hóa nito trong không khí dạng N2 thành NH4+ được gọi là quá trình cố định nitơ (cố định đạm) chúng ta sẽ bàn ở bài sau. Các vi khuẩn amôn hóa trong đất sẽ chuyển hóa niơ trong các hợp chất hữu cơ thành dạng NH4+. Nitơ dạng ion NH4+ này cung cấp cho cây. NH4+ tồn dư trong đất, trong diều kiện hiếu khí và có các vi khu