Chuyển đến nội dung chính

Nền giáo dục chạy theo thành tựu

Hải Quảng vừa đọc được bài viết trích trong TnBS (Tony Buổi sáng), mời các bạn cùng đọc và suy ngẫm nhé!
Có nhiều bạn trẻ tới gặp Tony và kể, con thi ĐH 29 điểm đó dượng, hoặc con giải nhất quốc gia môn Lý, rồi con từng chung kết đường leo lên đỉnh Bà Nà, rồi con thủ khoa đầu ra của ĐH X, rồi con giải nhất cuộc thi khởi nghiệp, con có bằng IElTS 8.5, con có bằng thạc sĩ, con có bằng tiến sĩ... Nhưng Tony chỉ nói là bạn có thành tích tốt, bây giờ cái cần là có thành tựu.

Thành tựu mới là cái đáng quý. "Nền giáo dục chạy theo thành tựu" là mốt mới của giáo dục hiện đại, bắt đầu từ nước Đức, sau đó là Thuỵ Sĩ, rồi Israel. Các nước đang khăn gói sang Đức để học mô hình này, điển hình là Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Srilanka, UAE.Thế các bạn hỏi thế thành tựu là gì. Giáo dục hướng đến thành tựu là sao. Các bạn có thể hiểu nôm na như vầy, thành tựu là cái gì đó tạo ra mới, người khác có thể sử dụng được hoặc hưởng lợi từ thành tựu đó.

Ví dụ xếp loại xuất sắc, giỏi, tiên tiến, thi toán thi sinh thi hoá các cấp đoạt giải này giải kia, tức gọi là học sinh có thành tích học tập. Trường đó 99.99% đỗ tú tài, 66.66% đỗ đại học, 33.33% tìm được việc làm chẳng hạn, thì trường cấp 3 đó có "bề dày thành tích". Nhưng chuyển qua thành tựu, thì bạn học sinh đó chỉ được xem là giỏi khi phát minh ra được các đồ dùng học tập mới, phương pháp học tập mới. Các bạn mày mò ra các sáng kiến dạy và học, chứng minh được thuyết tiến hoá của Đác Uyn là sai, tìm ra được hạt nhỏ hơn hạt nano gì đó mà chúng ta từng biết thì mới là học sinh xuất sắc. Thành tựu của ĐH hệ hàn lâm là các bài báo khoa học quốc tế, các luận văn luận án ứng dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội, các lý thuyết mới ra đời nhằm giúp con người nhận thức sâu hơn về một lĩnh vực gì đó. Thành tựu của ĐH hệ thực hành là những chiếc máy móc, những loại hoá chất vật liệu mới, bài hát mới, giai điệu mới, bức tranh mới, kiến trúc mới, cách chữa trị bệnh mới, cách giảng dạy mới....tức ngành gì cũng đều có thành tựu.

Thái Lan hiện có khoảng 150 ĐH cao đẳng, 1/2 trong đó là trường tư. Thực tế học sinh tốt nghiệp tú tài xong cũng chỉ muốn vào các ĐH danh tiếng, chỉ khoảng 30 trường. Người Thái vừa học tập mô hình Đức nên chuyển đổi 30 trường này thành các trường hệ hàn lâm, chuyên nghiên cứu. Các trường còn lại, họ chuyển thành trường ĐH thực hành, bằng cấp vẫn kỹ sư, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ...như nhau, nhưng một bên là ra lý thuyết và vĩ mô, một bên là ra công trình thực tế và vi mô. Nếu ghi chữ ĐH dân lập hay cao đẳng nghề sẽ khó tuyển sinh, nên đổi tên thành trường thực hành. Ví dụ lĩnh vực kinh tế, sẽ giữ lại vài trường tốp để nghiên cứu lý luận, chính sách, đào tạo các quản trị viên....còn hệ thực hành sẽ chuyên ví dụ nghiệp vụ kế toán, tài chính, xnk, quản lý phân xưởng, quản đốc nhà máy...

Ở Đức, nếu bạn chọn học ở trường hàn lâm, bạn phải mãi đũng quần trong thư viện hay phòng thí nghiệm để có công trình nghiên cứu. Đọc hàng ngàn cuốn sách, làm hàng ngàn thí nghiệm. Còn nếu bạn học ở trường thực hành, bạn buộc phải có 1-2 ngày trong tuần đi thực tập làm việc ở nhà máy xí nghiệp bệnh viện trường học nông trường....tuỳ theo ngành nghề chọn học. Và được đơn vị tiếp nhận đó trả lương bằng 1/3 lương chính thức. Nên cái đặc biệt của nền giáo dục này là tỷ lệ thất nghiệp rất thấp. Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức thường bằng 1/4 so với các nước châu Âu khác, chủ yếu là do các bạn tự khởi nghiệp, lu bu quá mà quên báo lại, nên trường tưởng là sinh viên đó thất nghiệp.

Sinh viên Đức quan niệm, khi ra trường, tự mình tích luỹ mua xe hơi, mua nhà...đó chính là thành tựu. Làm nghề gì cũng phải thật giỏi để có thể kiếm được tiền, vẽ tranh hay ca sĩ, võ sĩ hay đá bóng, làm móng tay hay thợ hàn...cứ giỏi là có thành tựu. Còn hưởng thừa kế thì không phải, chỉ là trời xui đất khiến sao sinh vô nhà người giàu có ấy, của cải không phải tự họ tạo ra thì chỉ là người tầm thường. Thừa kế không phải là năng lực, hẻm lẽ có năng lực thừa kế?

Đam mê học kinh tế thì phải làm kinh tế. Phải trở thành ông chủ xí nghiệp nhà máy gì đó mang tên mình. Ví dụ mình xuất thân từ Thái Nguyên, lên Hà Nội học ĐH kinh tế, phân tích bao nhiêu cái chỉ tiêu ROI, lập bao nhiêu dự án khả thi...thì hãy về Thái Nguyên mà khởi nghiệp với cây trà. Vật lộn chiến đấu với khó khăn, thách thức...cuối cùng cũng xây được nhà máy chế biến trà lên men mang tên mình, nhà máy Trần Huệ Thụy Ngọc Huyền chẳng hạn. Đó mới là người giỏi, chứ giải nhất toán toàn tỉnh Thái Nguyên ngày xưa, thủ khoa ĐH BK chỉ là thành tích, quá khứ chỉ là hoài niệm cho vui, Huyền nhé. Tốt nghiệp ĐH ngoại thương, thì hãy giúp doanh nghiệp mở thêm 5 thị trường xuất khẩu mới, 5 ngành nghề xuất khẩu mới. Đó mới là thành tựu của bạn. Mới có giá trị.

Đam mê cơ khí, thì suốt 4.5 năm ở khoa Cơ khí ĐH Cần Thơ, bạn Nam đã chế tác ra được 2 máy gặt lúa, 3 máy gieo sạ, 5 máy phun thuốc trừ sâu cao áp...thì đó là thành tựu của bạn Nam. Trong 6 năm ở ĐH Y dược, bạn Tuyết đã phát minh ra cách mổ mới, cách cầm dao theo trường phái à-la Tôn nữ Tuyết Tuyết chẳng hạn, vừa hát ả đào "hồng hồng tuyết tuyết" vừa mổ để khỏi tiêm thuốc mê. Hoặc trong 4 năm học ngành may mặc ở ĐH thực hành Cà Mau, bạn Mỹ đã thiết kế được quần bơi chế tác từ sợi có khả năng tự hoại, xuống biển bơi một lúc là nó hoà tan vào sóng biển...

Bạn trẻ thân mến. Mình không qua Đức học từ bé được, thì mình tự tạo ra "nền giáo dục chạy theo thành tựu" cho riêng mình. Các bạn gái trong CLB con dượng nhớ nhé. Mình tạo ra thành tựu hàng ngày, các loại bánh mứt, công thức nấu ăn, đan áo đan len, trồng những chậu hoa, trồng rau nuôi gà,....đó là thành tựu. Chân yếu tay mềm em chỉ có thế thôi. Thằng cu nào mon men đến tán mình, mình ra đề thi: hãy nêu thành tựu anh có từ lúc anh xuất hiện trên quả đất. Nó kể chiếc xe máy này, mình hỏi tự anh làm ra hay của mẹ anh mua cho? Nó nói mẹ mua cho, cái mình trề môi nói không được. Nó nói anh từng đi du học, mình hỏi tự tích lũy tiền để đi, tự tìm học bổng hay cha mẹ cho tiền, nó nói học bổng, mình mới nói ồ dé. Nó nói nhà anh có cơ sở sản xuất do bố mẹ anh cực khổ gầy dựng....thì mình nói bố mẹ anh mới có thành tựu, anh thì chưa. Tiễn nó ra khỏi nhà ngay, vừa tiễn vừa hát bài "thôi anh hãy về". Về làm, về học đi anh, "con nhà giàu, đẹp trai, học giỏi, nhà mặt phố-bố thủ kho" hay bằng cấp với em đã quá xưa.
Có "thành tựu" gì đi rồi hẵng đến, rồi chúng mình sẽ "thành thân".

 Cà Phê Cùng Tony - Trên Đường Băng
Các bạn có thể tìm đọc thêm các câu chuyện dí dỏm nhưng thâm
thúy của tác giả TnBS qua 2 cuốn sách:
 Bạn cũng có thể đọc trực tiếp các câu chuyện của TnBS trên Facebook Tony Buổi Sáng.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tính số nhiễm sắc thể, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân và giảm phân

Loài ong mật có bộ NST lưỡng bội 2n=32. Hợp tử của loài trải qua nguyên phân. Hãy cho biết có bao nhiêu NST, crômatit, tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì của quá trình nguyên phân? Để giải bài tập sinh học trên trước hết các bạn cần nhớ một số vấn đề sau: NST nhân đôi ở kì trung gian (pha S) trở thành NST kép, tồn tài trong tế bào đến cuối kì giữa. Vào kì sau, NST kép bị chẻ dọc tại tâm động, tách thành 2 NST đơn, phân li đồng đều về 2 cực tế bào. Crômatit chi tồn tại ở NST kép, mỗi NST kép có 2 crômatit. Mỗi NST dù ở thể đơn hay kép đều mang một tâm động. Vậy có bao nhiêu NST trong tế bào thì sẽ có bấy nhiêu tâm động. Do vậy, gọi 2n là bộ NST lưỡng bội của loài, số NST, số crômatit, số tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì quá trình nguyên phân như bảng sau: Kì trung gian Kì đầu Kì giữa Kì sau Kì cuối Số NST đơn 0 0 0 4n 2n Sô NST kép 2n 2n 2n 0 0 Số crômatit 4n 4n 4n 0 0 Số tâm động 2n 2n 2n 4n 2n T

Tính số loại và tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con

Vận dụng toán xác suất để giải nhanh các bài tập sinh học phần quy luật phân li độc lập như: xác định số loại kiểu gen, kiểu hình ở đời con hay tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con trong các phép lai khi biết kiểu gen của bố mẹ mà không cần viết sơ đồ lai. Theo quy luật phân li độc lập ta hiểu rằng: một phép lai có n cặp tính trạng, thực chất là n phép lai một cặp tính trạng. Như vậy khi đề bài cho biết kiểu gen có bố mẹ và tuân theo quy luật phân li độc lập thì ta chỉ cần dung toán xác suất để xác định nhanh số loại cũng như tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con theo quy tắc sau: Tỉ lệ KG khi xét chung nhiều cặp gen bằng các tỉ lệ KG riêng rẽ của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau. Số KH khi xét chung nhiều cặp tính trạng bằng số KH riêng của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau. Ví dụ:  Cho biết A - hạt vàng : a- hạt xanh; B- hạt trơn : b - hạt nhăn; D - thân cao : d- thân thấp. Tính trạng trội là trội hoàn toàn. Phép lai P: AabbDd x AaBbdd  sẽ cho số loại và tỉ lệ kiểu g

Xác định số lượng và tỉ lệ phần trăm từng loại nuclêôtit trong phân tử ADN (hay gen)

Dạng bài tập sinh học về tính số lượng và tỉ lệ % từng loại  nuclêôtit trên cả 2 mạch của phân tử ADN (hay gen). Để giải bài tập này bạn cần lưu ý một số vấn đề sau: Cần nhớ: Các nuclêôtit trên hai mạch đơn của ADN (hay gen) liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung A liên kết với T và ngược lại (T liên kết với A) G liên kết với X và ngược lai (X liên kết với G) Công thức Số lượng từng loại nuclêôtit + A=T; G=X => $\frac{A+G}{T+X}=1$ + N=A+T+G+X=2A+2G=2T+2X + A+G=T+X= $\frac{N}{2}$ Tỉ lệ % từng loại nuclêôtit + %A=%T; %G=%X + %(A+T+G+X) = 100% => %(A+G)=%(T+X)=50%N + %A=%T=50%-%G=50%-%X; %G=%X=50%-%A=50%-%T Bài tập có đáp án về tính số lượng, tỉ lệ phần trăm (%) từng loại nuclêôtit trong gen (hay ADN) Bài tập trắc nghiệm vận dụng 1. Gen có hiệu số gữa nuclêôtit loại T với loại nucleoit khác bằng 20%. Tỉ lệ phần trăm từng loại nuclêôtit của gen là: A. A=T=15%; G=X=35% B. A=T=35%; G=X=65% C. A=T=35%; G=X=15% D. A=T=30%; G=X=20% 2. Gen

Số lượng tế bào con, số NST cần cung cấp, số thoi vô sắc xuất hiện (hoặc bị phá hủy) qua nguyên phân

Để làm tốt bài tập sinh học dạng này các bạn cần xem lý thuyết về nguyên phân trước. Ngoài ra có thể xem thêm dạng bài tập về tính số NST, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân . Sau đây mình sẽ hướng dẫn các bạn làm bài tập tiếp theo: dạng bài tập về tính số lượng tế bào con, số NST cần cung cấp, số thoi vô sắc xuất hiện (bị phá huỷ) qua nguyên phân. Trước tiên các bạn cần hiểu và nhớ một số công thức sau Số tế bào sinh ra qua nguyên phân: + Một tế bào qua k lần nguyên phân sẽ hình thành $2^k$ tế bào con. + a tế bào đều nguyên phân k lần, số tế bào con được tạo thành là: $a.2^k$ tế  bào. Số NST đơn môi trường cần cung cấp: + Một tế bào lưỡng bội (2n NST) qua k lần nguyên phân, số NST đơn môi trường nội bào cần cung cấp: $2^k.2n-2n =  (2^k-1)2n$. + Vậy, a tế bào có 2n NST đều nguyên phân k lần, môi trường cần cung cấp số NST là: $a.(2^k-1)2n$. Số thoi vô sắc xuất hiện, bị phá hủy: + Thoi vô sắc xuất hiện ở kì trước, bị phân hủy hoàn toàn vào kì cuối. Vậy có ba

Vai trò của thận và gan trong cần bằng áp suất thẩm thấu

Môi trường bên trong cơ thể sinh vật (nội môi) nói chung và cơ thể người nói riêng luôn được duy trì ổn định. Ví dụ như người trưởng thành có nhiệt độ thân nhiệt khoảng 37,5 độ C, áp suất thẩm thấu trong máu và dịch mô khoảng 0,9atp, nồng độ gulozo (đường) trong máu khoảng 108 - 140mg/dl, nồng độ pH khoảng 7.35 – 7.45 ... Điều gì xảy ra nếu như các điều kiện lí hóa bên trong cơ thể chúng ta không còn ở trong vùng bình thường? Khi cơ thể chúng ta nhiệt độ quá cao hay quá thấp; điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ đường trong máu luôn quá cao hay quá thấp; điều gì sẽ xảy ra khi áp suất thẩm thấu trong cơ thể luôn cao hay thấp hơn mức bình thường? Câu trả lời chung là cơ thể không còn khỏe mạnh (hay là đã bị bệnh). Trong nội dung bài này chúng ta cùng nhau tìm hiểu có chế để cân bằng áp suất thẩm thấu trong trong môi trường bên trong cơ thể mà cụ thể là trong máu (dịch tuần hoàn). Áp suất thẩm thấu trong máu phụ thuộc vào lượng nước và nồng độ các chất hòa tan trong máu mà chủ yếu là hà

Tính tổng số nuclêôtit trong ADN hay Gen

ADN là một đại phân tử sinh học được cấu trúc theo nguyên tắc đa phân các đơn phân là nucleotit. Trong tự nhiên thì phân tử ADN có nhiều dạng cấu trúc nhưng dạng phổ biến nhất là cấu trúc ADN theo dạng B ; Trong chương trình sinh học phổ thông thi chúng ta cũng chủ yếu bàn đến cấu trúc dạng B của ADN mà thôi. Nếu bạn chưa biết cấu trúc ADN dạng B như thế nào thì hãy xem trước bài viết cấu trúc dạng B của phân tử ADN ; Còn ở đây chúng ta chủ yếu bàn đến cách vận dụng lý thuyết về ADN vào giải những bài tập cụ thể liên quan đến cấu trúc ADN dạng B. Trước hết chúng ta bắt đầu với dạng bài tập đơn gian nhất trong series bài vết giải bài tập ADN cơ bản , và đây là bài đầu tiên sẽ hướng dẫn cách tính số nuclêôtit trong phân tử ADN (hay gen) khi biết một trong các đại lượng như: chiều dài ADN, khối lượng ADN, số liên kết hóa trị, số vòng xoắn. Sau đây chúng ta sẽ xem ví dụ về tính số nuclêôtit của ADN (có thể là phân tử ADN hoàn chỉnh hay chỉ là một đoạn ADN) cho từng trường hợp cụ thể:

Phương pháp giải bài tập sinh học: Tìm xác suất xuất hiện số alen trội, lặn ở đời con

Tìm xác suất xuất hiện số alen trội, lặn ở thế hệ con trong phép lai thuộc quy luật di truyền phân li độc lập là dạng bài tập sinh học khó . Nếu chúng ta dùng phương pháp chia riêng từng cặp gen để tính sau đó gộp lại thì  tốn khá nhiều thời gian mà dễ nhầm lẫn. Vì vậy hôm tôi cố gắng tìm công thức chung áp dụng cho mọi trường hợp của đề bài một cách nhanh chóng.  Ở dưới tôi đã đưa ra công thức chung (sẽ chứng minh công thức trong một chuyên đề khác để các bạn cần tìm hiểu chuyên sâu) có kèm theo 2 ví dụ điển hình. Sau khi hiểu công thức các bạn vận dụng để làm 5 bài tập vận dụng có đáp án kèm theo. Các bạn cần trao đổi thêm vui lòng phản hồi (comment) ở cuối bài viết. Toán xác suất trong di truyền học phân tử A. Phương pháp chung: Ở phép lai mà tổng số cặp gen dị hợp của bố và mẹ là n , thì ở đời con loại cá thể có k  alen trội chiếm tỉ lệ $\frac{C_{n}^{k-m}}{2^n}$. Trong đó m là số cặp gen đồng hợp trội ở cả bố và mẹ. Ví dụ 1: Ở phép lai AaBbdd x AabbDd, loại cá th

Quá trình nhân đôi ADN (tái bản ADN)

ADN là vật chất di truyền ở cấp độ phân tử, việc truyền đạt thông tin di truyền trên ADN từ thế hệ tế bào mẹ sang tế bào con thông qua có chế nhân đôi ADN ; còn truyền đạt thông tin di truyền từ nhân ra tế bào chất thông qua cơ chế phiên mã và dịch mã . Quá trình tái bản ADN hay còn gọi là quá trình nhân đôi ADN được điễn ra trong nhân tế bào, ở pha S của kỳ trung gian, quá trình này tạo ra 2 crômatit trong mỗi nhiễm sắc thể để chuẩn bị phân  chia tế bào. Quá trình nhân đôi ADN được thực hiện theo nguyên tắc bổ sung và nguyên tắc bán bảo tồn (bán bảo toàn, giữ lại một nữa). Tiến trình nhân đôi ADN diễn ra theo 3 bước sau: 1. Tháo xoắn ADN và tạo chạc ba sao chép Dưới tác dụng của enzim tháo xoắn, 2 mạch đơn của ADN tách nhau dần tạo nên chạc ba tái bản (hình chữ Y) và để lộ ra hai mạch khuôn. Enzim tháo xoắn có 2 loại là gyraza và hêlicaza. Gyraza hay còn gọi là topoisomeraza có chức năng làm duỗi thẳng phân tử ADN (chuyển ADN từ cấu trúc mạch xoắn thành ADN có cấu tr

Cách viết giao tử cho thể tứ bội (4n) có kiểu gen AAaa

Sinh vật bình thường có bộ NST 2n, khi giảm phân sẽ cho giao tử bình thường n. Tuy nhiên trong thể đột biến như thể ba nhiễm, thể tứ bội thì giảm phân cho ra những loại giao tử như thế nào. Ở bài này sẽ hướng dẫn các em cách viết và các định tỉ lệ các loại giao tử được tạo ra trong quá trình giảm phân của thể tứ bội (4n). Ví dụ:  thể tứ bội có kiểu gen AAaa giảm phân bình thường sẽ tạo ra những loại giao tử nào và tỉ lệ bằng bao nhiêu? Để viết giao tử cho thể tứ bội các em sơ đồ hình chữ nhật như bên dưới. Ở mỗi góc của hình chữ nhật ta viết mỗi alen. Ví dụ ở trên cơ thể có kiểu gen AAaa nên ta viết 2 góc có alen A và 2 góc có alen a. Sau đó ta sẽ nối các cạnh và 2 đường chéo để được số loại và tỉ lệ giao tử như sau: Số giao tử AA = 1 Số giaotử aa = 1 Số giao tử Aa = 4 Vậy cơ thể tứ bội có kiểu gen AAaa giảm phân sẽ cho ra 3 loại giao tử lưỡng bội là AA, aa và Aa với tỉ lệ: 1/6AA : 4/6Aa : 1/6aa. Tất nhiên là ta chỉ xét một gen nào đó trong thể tứ bội và dạng này đề cũ

Chu kỳ tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân

Trong chương trình sinh học lớp 10 thì nội dung về chu kỳ tế bào, nguyên phân và giảm phân các em cần học kỹ và làm bài tập liên quan. Đây là kiến thức hết sức quan trọng để có thể học tiếp những kiến thức liên quan ở lớp tiếp tiếp theo. Cơ chế nguyên phân Cơ chế giảm phân Kiến thức các em đọc ở sách giáo khoa sinh học lớp 10, ở phần này tác giả chỉ trích một số câu hỏi thường gặp trong nội dung chuyên đề chu kỳ tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân. Câu 1. Trình bày khái niệm và nêu những giai đoạn của chu kì tế bào? – Chu kì tế bào là khoảng thời gian giữa 2 lần phân bào liên tiếp. Một chu kì tế bào bao gồm kì trung gian và quá trình nguyên phân. Kì trung gian gồm ba pha theo thứ tự là G1 , S, G2, trong đó pha G1 là thời kì sinh trưởng chủ yếu của tế bào; pha S diễn ra sự nhân đôi của ADN và nhiễm sắc thể. Kết thúc pha S, tế bào sẽ chuyển sang pha G2, lúc này tế bào sẽ tổng hợp tất cả những gì còn lại cần cho quá trình phân bào. Nguyên phân diễn ra ngay sau pha G2