Chuyển đến nội dung chính

Cái tôi siêu đẳng

Ai cũng muốn cuộc sống của mình tươi vui, đầy ắp tiếng cười, sở hữu một nghề nghiệp tốt. Nhưng niềm vui và sự thành công không tự nhiên đến, mà bạn phải tự tìm kiếm và sở hữu bằng chính năng lực của mình. Bạn có biết, mỗi người đều có “cái tôi siêu đẳng” để làm tốt nhất việc gì đó, điều quan trọng là bạn phải biết khám phá bản thân.

Ở trường không có môn học nào dạy bạn cách thức khám phá bản thân, Bạn cũng đừng quá chú trọng vào những lời nhận xét khen chê của người khác. Hơn ai hết, bạn phải là người hiểu chính mình, biết rõ nhất những thứ mình sẽ rất vui nếu được làm và những gì sẽ phải “vô cùng đau khổ” khi phải chung sống hàng ngày. Những nhà lãnh đạo thành công đều là những người biết rõ mình là ai, mình muốn gì, khả năng bản thân tới đâu. Và hãy tin rằng bạn cũng có thể làm được điều đó.

Tạm biệt mặc cảm, tự ti

Ở bài viết Bạn thuộc loại hình thông minh nào? (chèn link ẩn bài trước), bạn đã biết rằng, con người không chỉ có một mà đến 8 loại hình thông minh khác nhau. Đó là thông minh ngôn ngữ, thông minh logic toán học, thông minh về không gian, thông minh về âm nhạc, thông minh về tự nhiên, khả năng vận động cơ thể, năng lực tương tác, năng lực tự nhận thức bản thân. Vậy thì có hề gì nếu bạn không thể giải nhanh chóng bài toán thầy giảng, không thể học giỏi đều các môn và thua đứt nhỏ bạn ngồi kế bên về điểm số. Mỗi người sẽ có tố chất, năng lực, mặt mạnh yếu khác nhau. “Tự kỷ ám thị” - cảm xúc buồn bã, chán nản sẽ đánh lừa bạn, khiến bạn nghĩ rằng mình đúng là một kẻ thất bại. Bạn không xua đi đám mây mờ thì sẽ không thể nào được nhìn thấy ánh trăng sáng trong đêm rằm. Vậy thì thay vì mặc cảm tự ti mình thua sút bạn bè, hãy bình tâm thực hiện “cuộc điều tra trên diện rộng” những mặt mạnh của bản thân mình.

Đừng mãi khắc phục nhược điểm

Có thể bạn không biết mình làm gì giỏi nhất nhưng bạn sẽ biết rất rõ những thứ mình yếu kém hơn bạn bè. Cố khắc phục điểm yếu hay tìm mọi cách che giấu nó đi vì “sĩ diện bản thân” không phải là điều nên làm trước tiên. Ngược lại, “cố cho bằng bạn bè” là bạn đang lãng phí thời gian để làm những điều có ích hơn thế.

Người lớn cũng hay bảo rằng bạn phải khắc phục điểm yếu. Điều này cũng tốt nhưng không phải là ưu tiên số một trong hành trình khám phá bản thân. Bởi nếu khắc phục được điểm yếu, bạn cũng chẳng trở nên nổi bật, cũng như không giúp bạn biết rõ mình thích và làm điều gì tốt nhất. Bạn không biết bơi, không chơi được nhạc, không giỏi làm thơ? Hãy mặc kệ những điều đó, đừng cố làm gì nếu nó không đem lại cho bạn chút cảm hứng, vui thích nào. Thay vào đó, hãy dành thời gian để phát triển ưu điểm của mình. Bạn thích vẽ, hãy cứ vẽ. Bạn thích chơi thể thao, đừng chôn chân ở nhà. Không quan trọng bạn làm việc gì, sở thích ra sao miễn đó là những điều lành mạnh và bạn cảm thấy vui sướng khi thực hiện. Nếu chưa xác định được mình thực sự thích và có khả năng làm gì nhất. Hãy cố gắng tìm kiếm, thử qua mọi thứ nếu bạn có dịp và ghi nhớ cảm xúc của mình. Cảm xúc là thứ rất quan trọng. Nó sẽ dẫn dắt lý trí và đưa ra những quyết định trọng đại trong cuộc đời chúng ta.

Tỉnh táo trước bẫy “công danh”

Có nói quá không khi gọi công danh là bẫy? Bạn làm tốt việc gì đó nhưng không hề yêu thích nó lại không có đủ dũng khí khước từ. Đó chính là khi bạn bị mắc bẫy công danh. Chỉ vì bạn có thể chơi được đàn mà mẹ liên tục bắt bạn biểu diễn trước các phụ huynh khác trong khi việc chơi đi chơi lại một vài bài hát bất hủ khiến bạn chán ngấy. Bạn học giỏi các môn và khi chọn trường, mọi người đều hướng bạn đến với những ngành nghề kỹ sư, bác sĩ, nghề dễ xin việc sau này. Trong khi đó, bạn chỉ muốn làm đầu bếp và thích thú sáng tạo những công thức nấu ăn mới. Đứng trước áp lực “công danh” này, liệu bạn có đủ mạnh mẽ để từ chối và đi con đường riêng của mình?

Thực tế tại các giảng đường đại học, không ít sinh viên “chọn nhầm ngành”, đi học trong tư thế uể oải, mệt mỏi và chỉ háo hức khi tiếng chuông tan lớp vang lên. Tại các công ty cũng vậy, có nhiều nhân viên làm việc trong tâm thế chờ đến giờ ăn trưa hay cố cho hết giờ. Mỗi cuối tuần họ gào lên TGIF (Thank God it’s Friday – Ơn trời, thứ sáu rồi) và hăm hở ra về. Họ làm việc trong sự trì trệ, chán nản và chỉ hoàn thành công việc ở mức độ đạt yêu cầu. Đa số là những người e ngại sự đổi thay bởi nỗi sợ hãi “chưa chắc công việc khác sẽ cho họ quyền lợi như hiện tại, chưa chắc họ sẽ yêu thích nó” luôn cản trở họ. Đó là những người sống cầm chừng, không hiểu rõ sức mạnh của bản thân mình. Bạn sẽ không muốn tương lai của mình như thế phải không nào!

Vượt qua cái bóng quá khứ

Tuần trước, tháng trước bạn vừa được khen ngợi hay vừa gặp phải điểm kém. Bạn cứ nghĩ mãi về điều đó, “say men chiến thắng” hoặc chìm trong cảm giác thất bại đều là những cảm xúc tiêu cực. Khi thành công, dĩ nhiên bạn có quyền tự hào về điều đó nhưng mọi thứ sẽ không luôn là như thế. Quá khứ là những gì đã xảy ra, bạn còn cả một tương lai và danh sách dài những điều phải thực hiện đang chờ đợi phía trước. Không phải vì lúc bé, bạn đoạt giải nhất cuộc thi cấp tỉnh mà lớn lên bạn có thể trở thành một người tài giỏi nếu không tiếp tục học tập, phát triển bản thân. Không phải vì bạn “đội sổ” một hai năm học mà tương lai sau này sẽ trở nên bi đát. Tương lai là điều luôn hấp dẫn vì không ai biết trước chuyện gì sẽ xảy ra và vì thế, chúng ta hoàn toàn có quyền tạo nên nó theo cách mình muốn.

Quyền tự do lựa chọn

Thêm một điều quan trọng nữa, trong hành trình khám phá bản thân, chính bạn là người luôn có quyền lựa chọn. Không ai có thể định đoạt sở thích, nghề nghiệp, tương lai của bạn. Chấp nhận mọi thứ, sống nhàn nhạt hàng ngày, học hành, thi cử theo lộ trình của số đông hay làm tất cả bằng sự vui vẻ, đam mê là do bạn quyết định và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Chúng ta chỉ có một quãng thời gian hữu hạn, một cuộc đời để sống và nếu bạn dùng ngân quỹ này vào những cảm xúc chán nản, tiêu cực, bạn thật sự đang lãng phí thời gian. Nhưng để hoàn toàn sở hữu quyền tự do lựa chọn này, bạn cần có dũng khí và trung thực với bản thân mình.
Nguồn: internet

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tính số loại và tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con

Vận dụng toán xác suất để giải nhanh các bài tập sinh học phần quy luật phân li độc lập như: xác định số loại kiểu gen, kiểu hình ở đời con hay tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con trong các phép lai khi biết kiểu gen của bố mẹ mà không cần viết sơ đồ lai.

Theo quy luật phân li độc lập ta hiểu rằng: một phép lai có n cặp tính trạng, thực chất là n phép lai một cặp tính trạng. Như vậy khi đề bài cho biết kiểu gen có bố mẹ và tuân theo quy luật phân li độc lập thì ta chỉ cần dung toán xác suất để xác định nhanh số loại cũng như tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con theo quy tắc sau: Tỉ lệ KG khi xét chung nhiều cặp gen bằng các tỉ lệ KG riêng rẽ của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau.Số KH khi xét chung nhiều cặp tính trạng bằng số KH riêng của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau.
Ví dụ: Cho biết A - hạt vàng : a- hạt xanh; B- hạt trơn : b - hạt nhăn; D - thân cao : d- thân thấp. Tính trạng trội là trội hoàn toàn. Phép lai P: AabbDd x AaBbdd sẽ cho số loại và tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình riên…

Tính số nhiễm sắc thể, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân và giảm phân

Loài ong mật có bộ NST lưỡng bội 2n=32. Hợp tử của loài trải qua nguyên phân. Hãy cho biết có bao nhiêu NST, crômatit, tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì của quá trình nguyên phân? Để giải bài tập sinh học trên trước hết các bạn cần nhớ một số vấn đề sau:
NST nhân đôi ở kì trung gian (pha S) trở thành NST kép, tồn tài trong tế bào đến cuối kì giữa. Vào kì sau, NST kép bị chẻ dọc tại tâm động, tách thành 2 NST đơn, phân li đồng đều về 2 cực tế bào.Crômatit chi tồn tại ở NST kép, mỗi NST kép có 2 crômatit.Mỗi NST dù ở thể đơn hay kép đều mang một tâm động. Vậy có bao nhiêu NST trong tế bào thì sẽ có bấy nhiêu tâm động.Do vậy, gọi 2n là bộ NST lưỡng bội của loài, số NST, số crômatit, số tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì quá trình nguyên phân như bảng sau: Kì trung gian Kì đầu Kì giữa Kì sau Kì cuối Số NST đơn 0 0 0 4n 2n Sô NST kép 2n 2n 2n 0 0 Số crômatit 4n 4n 4n 0 0 Số tâm động 2n 2n 2n 4n 2n Tương tự như vậy  bạn cũng có thể tìm được số NST, số crômatit, số tâm động có tron…

Phương pháp giải bài tập sinh học: Tìm xác suất xuất hiện số alen trội, lặn ở đời con

Tìm xác suất xuất hiện số alen trội, lặn ở thế hệ con trong phép lai thuộc quy luật di truyền phân li độc lậpdạng bài tập sinh học khó. Nếu chúng ta dùng phương pháp chia riêng từng cặp gen để tính sau đó gộp lại thì  tốn khá nhiều thời gian mà dễ nhầm lẫn. Vì vậy hôm tôi cố gắng tìm công thức chung áp dụng cho mọi trường hợp của đề bài một cách nhanh chóng.  Ở dưới tôi đã đưa ra công thức chung (sẽ chứng minh công thức trong một chuyên đề khác để các bạn cần tìm hiểu chuyên sâu) có kèm theo 2 ví dụ điển hình. Sau khi hiểu công thức các bạn vận dụng để làm 5 bài tập vận dụng có đáp án kèm theo. Các bạn cần trao đổi thêm vui lòng phản hồi (comment) ở cuối bài viết.

Toán xác suất trong di truyền học phân tử A. Phương pháp chung: Ở phép lai mà tổng số cặp gen dị hợp của bố và mẹ là n, thì ở đời con loại cá thể có k alen trội chiếm tỉ lệ $\frac{C_{n}^{k-m}}{2^n}$. Trong đó m là số cặp gen đồng hợp trội ở cả bố và mẹ. Ví dụ 1: Ở phép lai AaBbdd x AabbDd, loại cá thể 2 alen trội chiếm tỉ …

Hướng dẫn giải chi tiết đề thi THPT Quốc Gia 2019 môn SINH HỌC

Bài giải chi tiết đề thi THPT Quốc Gia 2019 môn Sinh học - mã đề 218. Ban biên tập sẽ cập nhật thêm bài phân tích kèm lời giải chi tiết cho những câu khó trong đề. 1. Nội dung đề thi sinh học 2019 - mã 218Câu 81: Cà độc dược có bộ NST 2n=24. Theo lí thuyết, số nhóm gen liên kết của loài này là: A. 8. B. 12. C. 16. D. 24 Câu 82: Theo vĩ độ, rừng mưa nhiệt đới (rừng ẩm thường xanh nhiệt đới) là khu sinh học phân bố ở vùng nào sau đây? A. Cận Bắc Cực. B. Bắc Cực. C. Nhiệt đới. D. Ôn đới. Câu 83: Trong quá trình phiên mã, nuclêôtit loại U ở môi trường nội bào liên kết bổ sung với loại nuclêôtit nào của gen? A. T. B. A. C. X. D. G. Câu 84: Sinh vật nào sau đây có cặp NST giới tính ở giới cái là XX và giới đực là XY? A. Thỏ. B. Bướm. C. Chim. D. Châu chấu. Câu 85: Quá trình chuyển hóa $NH_4^+$ thành $NO_3^-$ do hoạt động của nhóm vi khuẩn A. cố định nitơ. B. nitrat hóa. C. amôn hóa. D. phản nitrat hóa. Câu 86: Trong ống tiêu hóa của người, quá trình tiêu hóa hóa học diễn ra chủ yếu ở A. ruột n…

Quá trình chuyển hóa nitơ trong đất

Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thực vật (cây). Nhưng rễ cây chỉ hút được nitơ ở dạng NH4+ và NO3-. Nhưng trong không khí thì có các dạng nitơ chủ yếu N2 (ngoài ra còn có dạng NO hay NO2 nhưng gây độc cho cây) còn trong đất thì chủ yếu nitơ trong các hợp chất hữu cơ của xác động thực vật để lại.
Do đó, để cung cấp nitơ cho cây thì cần phải chuyển các dạng nitơ N2 cũng như nito trong các hợp chất có chứ nitơ thành dạng nitơ mà cây có thể hấp thụ được (NH4+ hoặc NO3-). Trong phạm vi bài này chúng ta cùng nhau tìm hiểu và phân tích thêm các quá trình chuyển hóa nitơ trong đất. Còn quá trình chuyển hóa nito trong không khí dạng N2 thành NH4+ được gọi là quá trình cố định nitơ (cố định đạm) chúng ta sẽ bàn ở bài sau.

Các vi khuẩn amôn hóa trong đất sẽ chuyển hóa niơ trong các hợp chất hữu cơ thành dạng NH4+. Nitơ dạng ion NH4+ này cung cấp cho cây.
NH4+ tồn dư trong đất, trong diều kiện hiếu khí và có các vi khuẩn nitrat hóa thì các vi khuẩn n…

Cách viết giao tử cho thể tứ bội (4n) có kiểu gen AAaa

Sinh vật bình thường có bộ NST 2n, khi giảm phân sẽ cho giao tử bình thường n. Tuy nhiên trong thể đột biến như thể ba nhiễm, thể tứ bội thì giảm phân cho ra những loại giao tử như thế nào.
Ở bài này sẽ hướng dẫn các em cách viết và các định tỉ lệ các loại giao tử được tạo ra trong quá trình giảm phân của thể tứ bội (4n).
Ví dụ: thể tứ bội có kiểu gen AAaa giảm phân bình thường sẽ tạo ra những loại giao tử nào và tỉ lệ bằng bao nhiêu?
Để viết giao tử cho thể tứ bội các em sơ đồ hình chữ nhật như bên dưới.
Ở mỗi góc của hình chữ nhật ta viết mỗi alen. Ví dụ ở trên cơ thể có kiểu gen AAaa nên ta viết 2 góc có alen A và 2 góc có alen a. Sau đó ta sẽ nối các cạnh và 2 đường chéo để được số loại và tỉ lệ giao tử như sau: Số giao tử AA = 1Số giaotử aa = 1Số giao tử Aa = 4 Vậy cơ thể tứ bội có kiểu gen AAaa giảm phân sẽ cho ra 3 loại giao tử lưỡng bội là AA, aa và Aa với tỉ lệ: 1/6AA : 4/6Aa : 1/6aa.
Tất nhiên là ta chỉ xét một gen nào đó trong thể tứ bội và dạng này đề cũng đề cập 1 gen nào …

Bài tập di truyền quần thể ngẫu phối khi có tác động của chọn lọc tự nhiên

Giả sử thế hệ xuất phát của một quần thể ngẫu phối có tần số alen A là p; tần số alen a là q và chọn lọc tự nhiên loại bỏ hoàn toàn kiểu hình động hợp lặn (kiểu gen aa bị chết ở giai đoạn phôi) thì tần số alen và thành phần kiểu gen qua các thế hệ ngẫu phối như sau:
Bài tập trắc nghiệm về quần thể ngẫu phối Quá trình ngẫu phối thì $F_1$ sẽ có thành phần kiểu gen là $p^2$AA : 2pqAa : $q^2$aa.
Do aa bị chết ở giai đoạn phôi nên tỉ lệ kiểu gen ở $F_1$ là: $p^2$AA : 2pqAa, suy ra tần số alen ở $F_1$ là: Tần số alen a = $\frac{pq}{p^2+2pq}=\frac{q}{1+q}$n số alen A = $1-\frac{q}{1+q}=\frac{1}{1+q}$ Thành phần kiểu gen ở thế hệ F2 là: ${{\left( \frac{1}{1+q} \right)}^{2}}$AA : $2\frac{1}{1+q}\frac{q}{1+q}$Aa : ${{\left( \frac{q}{1+q} \right)}^{2}}$aa
Vì aa bị chết ở giai đoạn phối nên thành phân kiểu gen của $F_2$ là:
$\frac{1}{1+2q}$AA : $\frac{2q}{1+2q}$Aa, suy ra tần số alen ở $F_2$ là:
Tần số alen a = $\frac{q}{1+2q}$Tần số alen A = $\frac{1+q}{1+2q}$ Quá trình ngẫu phối sẽ sinh ra $F_3$…

Quá trình tiêu hóa ở động vật ăn thực vật nhai lại

Thực vật là loại thức ăn nghèo dinh đưỡng và khó tiêu hóa (trong thức ăn chủ yếu là xenlulôzơ; ít tinh bột và prôtên,..). Để thích nghi với loại thức ăn có đặc điểm như vậy thì động vật ăn thực vật nói chung và động vật ăn thực vật có dạ dày 4 túi (động vật có dạ dày 4 ngăn hay động vật nhai lại) cũng có những đặc điểm cấu tạo cũng như quá trình tiêu hóa phù hợp.


Trâu, bò, dê, cừu lấy thức ăn (cỏ) và nhai qua loa, sau đó nuốt thức ăn vào dạ cỏ. Khi nghỉ ngơi, chúng ợ thức ăn từ dạ cỏ lên miệng và nhai lại rất kĩ (gọi là động vạt nhai lại). Ở nội dung bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về quá trình tiêu hóa ở động vật ăn thực vật nhai lại. Tiêu hóa ở miệng Hàm răng của động vật nhai lại phù hợp với bứt cỏ và nghiền thức ăn. Ở trâu, hàm trên có tầm sừng thay cho răng cửa và răng nanh, rặng cạnh hàm và răng hàm. Hàm dưới có răng cửa và răng nanh giống nhau, có tác dụng tì cỏ vào tấm sừng hàm trên. Giữa răng của, răng nạnh với răng cạnh hàm, răng hàm có khoảng trống tạo thuận lợi cho chuyển độ…

Tương quan giữa tổng số nuclêôtit với chiều dài, khối lượng và số chu kì xoắn của ADN (hay gen)

Trong phân tử ADN thì ta chỉ cần biết một trong các đại lượng tổng số nuclêôtit hoặc chiều dài hoặc khối lượng hoặc số kì xoắn ta sẽ tính được các đại lượng còn lại. Từ phần lý thuyết về cấu trúc của ADN (hay gen) ta cần nhớ một số dữ liệu sau để làm bài tập sinh học đơn giản về cấu trúc ADN: Cần nhớ:Chiều dài của ADN chính là chiều dài một mạch đơn và mỗi nuclêôtit có kích thước 3,4 ăngstrôn.Chiều dài của một chu kì xoắn là 34 ăngstrôn (tức là 10 cặp nuclêôtit hay 20 nuclêôtit).  Lưu ý:.Khối lượng trung bình của mỗi Nu trong ADN (hay gen) là 300đvC. Quy ước (gọi):N là tổng số nucleotit của phân tử ADN (hay gen);L là chiều dài của ADN (hay gen);M là khối lượng của ADN (hay gen);C là số chu kì xoắn của ADN (hay gen).  Công thức tính các đại lượng trong ADN:L = 3,4.N/2 (ăngstrôn) => N = 2L/3,4 (Nu)M = N.300 (đvC) => N = M/300 (Nu)M = 300.2L/3,4 (đvC) => L = 3,4.M/300.2 (ăngstrôn)C = N/20 = L/3,4.10 = M/20.300 (chu kì) Bài tập trắc nghiệm áp dụng: Trước khi là bài tập bên dưới …

Xác định số lượng và tỉ lệ phần trăm từng loại nuclêôtit trong phân tử ADN (hay gen)

Dạng bài tập sinh học về tính số lượng và tỉ lệ % từng loại  nuclêôtit trên cả 2 mạch của phân tử ADN (hay gen). Để giải bài tập này bạn cần lưu ý một số vấn đề sau: Cần nhớ:Các nuclêôtit trên hai mạch đơn của ADN (hay gen) liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sungA liên kết với T và ngược lại (T liên kết với A)G liên kết với X và ngược lai (X liên kết với G) Công thứcSố lượng từng loại nuclêôtit + A=T; G=X => $\frac{A+G}{T+X}=1$ + N=A+T+G+X=2A+2G=2T+2X + A+G=T+X= $\frac{N}{2}$ Tỉ lệ % từng loại nuclêôtit + %A=%T; %G=%X + %(A+T+G+X) = 100% => %(A+G)=%(T+X)=50%N + %A=%T=50%-%G=50%-%X; %G=%X=50%-%A=50%-%T
Bài tập có đáp án về tính số lượng, tỉ lệ phần trăm (%) từng loại nuclêôtit trong gen (hay ADN) Bài tập trắc nghiệm vận dụng 1. Gen có hiệu số gữa nuclêôtit loại T với loại nucleoit khác bằng 20%. Tỉ lệ phần trăm từng loại nuclêôtit của gen là: A. A=T=15%; G=X=35% B. A=T=35%; G=X=65% C. A=T=35%; G=X=15% D. A=T=30%; G=X=20% 2. Gen có A > G và có tổng giữa hai loại nuclêôtit bổ su…
-