Chuyển đến nội dung chính

Học dưới góc nhìn của khoa thần kinh

Lâu rồi đã muốn tìm hiểu hoạt động của thần kinh liên quan đến quá trình học tập. Nay nhận được bài viết từ trang hocthenao.vn xin phép được trích bài viết này cùng bạn đọc của Hải Blog's. Bài viết có nội dung như sau:

Kỹ thuật máy quét bằng cộng hưởng từ (scanner par résonnance magnétique nucléaire) cho phép quan sát não trong quá trình học và giúp cho thấy những kiến thức trình bày ở đây.

Kiến trúc não bộ đã sẳn sàng từ lúc chào đời.

Kiến trúc có nghĩa là một nhà trống nhưng cột kèo, sân gạch, phòng ốc, … sẳn sàng hết. Tiếp đến, trẻ nào cũng có nhu cầu phát triển và nhu cầu đó là một động lực đẩy các cháu … học. Sẳn phương tiện hay công cụ, lại có nhu cầu, hai cấu thành căn bản của sự học, từ đó, tiếp cận với tri thức nằm trong quá trình bình thường của mọi trẻ. Và đại đa số trẻ có tiềm năng thành công trong việc học.

Một cách ví von, nhiều bà mẹ lo lắng khi con họ chậm mọc răng, bác sĩ sẽ sẽ cười và bảo “các bà đã gặp trẻ nào, lúc ba tuổi mà hoàn toàn lợi trơn miệng trống, không có răng chưa?” - Mỗi trẻ có thời dụng biểu riêng của cháu. Ta kiên nhẫn chờ thôi. Học nói, học đọc, học viết, trong một chừng mực nào đó cũng thế.

Kiến trúc não bộ đã có sẳn. Trừ trường hợp hiếm hoi (trẻ bị dị tật), trẻ nào cũng ra đời với hệ «cấu trúc và giao thông» não bộ (architecture reliée hay connected) sẳn sàng hoạt động. Có vùng cho tập đọc, có vùng cho học toán, học âm nhạc…

Đối với trẻ, học là được kích thích để lập các dây liên hoàn nối các tế bào não với nhau và đưa cấu trúc vào sinh hoạt.

Khả năng co giản, thích ứng, … của não bộ rất lớn.

Chẳng những đã có sẳn, hệ thống não bộ rất dễ thích ứng uyển chuyển như một loại đất sét, ta nhào nặng thế nào cũng được. Khả năng này giúp trẻ tiếp thu cái mới một cách thần kỳ, như một tờ giấy thấm. Não của trẻ là một bộ nhớ mà hiện chưa có máy tính nào có thể cạnh tranh được. Tiềm năng của não rất lớn, khai thác tốt thì bất cứ trẻ nào cũng có thể trở thành một khoa học gia uyên bác.

Về sau, càng lớn tuổi, khả năng thích ứng kém hơn nhưng vẫn hiện hữu. Chính vì thế mà ta sẽ nói về thời điểm.

Có những thời điểm thuận tiện

Trước đó thì chưa phải lúc, sau đó thì thành trể – thành ngữ của Pháp: Avant l’heure, ce n’est pas l’heure. Après l’heure, ce n’est plus l’heure -

Thí dụ về cái trể hùng hồn nhất là khả năng ngôn ngữ: nếu một đứa trẻ bị cô lập từ lúc mới chào đời tới năm 6 tuổi chẳng hạn trường hợp trẻ bị bỏ rơi hay bị nhốt trong tủ, được nuôi nhưng không liên hệ với xã hội, bé sẽ học nói rất khó khăn hay là sẽ không thể nói sau đó.

Ứng dụng phổ thông nhất mà ai cũng trải nghiệm là tuổi để học đọc và học viết. Thông thường ở các nước trên thế giới, tuổi để vào lớp 1 là 6 tuổi vì các nghiên cứu cho thấy là lúc ấy dạy trẻ đọc và viết dễ nhất, nhanh nhất. Trẻ lại đủ «chín chắn» về tâm lý và sức khoẻ, để chấp nhận kỷ luật, nhất là về giờ giấc, của trường tiểu học. Học sớm thì thường phải trả giá đắt hơn, gây áp lực cho trẻ.

Có những "vận tốc" thích hợp :

15 phút mỗi lần hay hơn là nhiều giờ liên tiếp. Sự chú ý của não bộ, kể cả não bộ của người lớn, không thể duy trì liên tục trong một thời gian dài. Ngày xưa thì ta bảo 20 phút, nhưng thật ra, các scan gần đây cho biết chính xác là sau 15 phút thì não cần … giải trí, nếu không thì cũng xao nhãng, không tiếp tục hấp thụ thêm, hay hấp thụ thêm với một kết quả thấp hơn.

Áp dụng điều này vào sư phạm thì các chuyên viên giáo dục gợi ý các giáo viên thay đổi sinh hoạt, ngừng bài giảng một vài phút, hay ít nhất, cho các bài giảng ở Đại học, thì đổi giọng nói, cho vào một câu khôi hài, cho một ảnh đèn chiếu «lạ» hay «có vấn đề» để «đánh thức» sự chú ý của cử tọa.

Khi ôn bài để chuẩn bị thi, học sinh sinh viên cũng nên chú ý đến «luật» này để tổ chức thời gian ôn bài thi của mình xen kẻ với những sinh hoạt tay chân hay giải trí.

Có những phương thức tốt hơn, hữu hiệu hơn so với các phương thức khác.

Học, xong rồi đánh giá sự thu thập sau đó mới học tiếp có kết quả hơn là tiếp tục một quá trình học không đánh giá.

Thật vậy, trả lời cho một cuộc đánh giá giúp người đi học «ôn» bài, được khuyến khích khi được « điểm » cao, thấy khó chịu khi đánh giá cho kết quả xấu – cái khó chịu này sẽ là động cơ để tiếp tục học.

Nhiều nghiên cứu cho thấy là nếu chỉ kiểm tra định kỳ hai tháng một lần thì kết quả tiếp thu kém hơn là cho kiểm tra mỗi 15 ngày ở trường tiểu học, chẳng hạn.

Vai trò của giấc ngủ trong việc học?

Trong lĩnh vực này, nhiều người đã đưa ra những lý thuyết đủ loại (nhưng thông thường là chưa được kiểm chứng), những kinh nghiệm có khi áp dụng được cho vài trường hợp (học sinh ngữ trong lúc ngủ chẳng hạn, cũng hoàn toàn không cơ sở khoa học).

Tựu chung, khoa học về giấc ngủ hiện thời cho thấy là giấc ngủ, trong trạng thái ngủ mơ – tức là nhiều nhất ở phần thứ nhì mỗi đêm, lúc gần sáng, khoảng 90 phút mỗi đêm – khoa học về giấc ngủ cho thấy là trong lúc ngủ ta không học thêm được nhưng khi ngủ mơ, ta thu xếp dọn dẹp các « kiến thức » tiếp thu trong ngày, các « trí nhớ »… Nhờ thu dọn như thế, ta loại bỏ được những cái rườm rà, những cái ngoại vi, không cần thiết để củng cố trí nhớ tập trung vào các cơ sở, có lô gích và có kiến trúc. Thế có nghĩa là ngủ đủ giờ cần cho việc học vì ngủ giúp củng cố trí nhớ, cũng cố các tiếp thu. Bác sĩ nào cũng khuyên là phải bảo vệ giấc ngủ của trẻ đang tuổi đi học.

Ứng dụng trực tiếp là đêm trước khi đi thi, ta không nên thức trắng để cố học những điều chưa nắm vững. Trái lại, phải ngủ đủ giấc để tránh trường hợp bị “cái lổ hổng đen” – le trou noir – làm ta quên hết những điều đã ôn tập.

Ngoài sự tiếp tay của thần kinh học, để cho sự học có kết quả tốt, ta cũng đừng quên vài nguyên tắc căn bản của tâm lý giáo dục học

  • Trẻ chỉ học những gì có ý nghĩa với chúng. Nếu bắt chúng học những điều khác mà chúng không hiểu hay không thích là … nhồi sọ chứ không còn là học. Chúng sẽ quên rất nhanh những kiến thức hấp thụ bởi cách này.
Có ý nghĩa khác với thực dụng. Một điều xa vời cũng có thể thành gần gũi với trẻ khi giáo viên biết minh họa.

  • Trẻ cần vào cuộc, thành diễn viên của chính sự học của mình chứ không thụ động nghe thầy. Những phương pháp sư phạm tích cực hiệu quả hơn là vì thế. Trẻ cần kiến trúc cái hiểu biết mà cháu phải hấp thụ, biết phá vở tổng thể để ghép trở lại theo tuần tự mà cháu nắm được, kiến trúc riêng của cháu.
  • Trẻ cần chú ý mới học được nhưng không phải chỉ ra lệnh là chú ý của trẻ sẽ được tập trung. Giáo viên cần dùng đủ loại « kế » sư phạm để động viên và làm cho trẻ chú ý đến bài học – xin nhắc lại chú ý có giới hạn là 15 phút mỗi lần.
  • Kiến thức đã hấp thụ cần được thực hành, bổ sung, nhắc lại thường xuyên để làm cho sự hấp thụ thành vững chắc – lập đi lập lại là phương thức giáo dục cổ điển nhưng chưa lỗi thời – bài tập ứng dụng, thí nghiệm, đi thực tiển, … là vài ba phương thức thường dùng.

Tạm kết luận?

Não của trẻ là một cơ sở khởi đầu cần thiết đã sẳn sàng cho việc học. Cái cần thêm là làm sao trường học, giáo viên, phụ huynh, … góp phần vào để trẻ thực sự học. Giúp trẻ dùng khả năng của mình khám phá môi trường sống, hấp thụ những kiến thức căn bản để bươn chải trên đời, để sống với mọi người và để sống tốt.
Nguyễn Huỳnh Mai

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Tính số nhiễm sắc thể, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân và giảm phân

Loài ong mật có bộ NST lưỡng bội 2n=32. Hợp tử của loài trải qua nguyên phân. Hãy cho biết có bao nhiêu NST, crômatit, tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì của quá trình nguyên phân? Để giải bài tập sinh học trên trước hết các bạn cần nhớ một số vấn đề sau: NST nhân đôi ở kì trung gian (pha S) trở thành NST kép, tồn tài trong tế bào đến cuối kì giữa. Vào kì sau, NST kép bị chẻ dọc tại tâm động, tách thành 2 NST đơn, phân li đồng đều về 2 cực tế bào. Crômatit chi tồn tại ở NST kép, mỗi NST kép có 2 crômatit. Mỗi NST dù ở thể đơn hay kép đều mang một tâm động. Vậy có bao nhiêu NST trong tế bào thì sẽ có bấy nhiêu tâm động. Do vậy, gọi 2n là bộ NST lưỡng bội của loài, số NST, số crômatit, số tâm động có trong một tế bào qua mỗi kì quá trình nguyên phân như bảng sau: Kì trung gian Kì đầu Kì giữa Kì sau Kì cuối Số NST đơn 0 0 0 4n 2n Sô NST kép 2n 2n 2n 0 0 Số crômatit 4n 4n 4n 0 0 Số tâm động 2n 2n 2n 4n 2n T

Số lượng tế bào con, số NST cần cung cấp, số thoi vô sắc xuất hiện (hoặc bị phá hủy) qua nguyên phân

Để làm tốt bài tập sinh học dạng này các bạn cần xem lý thuyết về nguyên phân trước. Ngoài ra có thể xem thêm dạng bài tập về tính số NST, số crômatit và số tâm động qua các kì của nguyên phân . Sau đây mình sẽ hướng dẫn các bạn làm bài tập tiếp theo: dạng bài tập về tính số lượng tế bào con, số NST cần cung cấp, số thoi vô sắc xuất hiện (bị phá huỷ) qua nguyên phân. Trước tiên các bạn cần hiểu và nhớ một số công thức sau Số tế bào sinh ra qua nguyên phân: + Một tế bào qua k lần nguyên phân sẽ hình thành $2^k$ tế bào con. + a tế bào đều nguyên phân k lần, số tế bào con được tạo thành là: $a.2^k$ tế  bào. Số NST đơn môi trường cần cung cấp: + Một tế bào lưỡng bội (2n NST) qua k lần nguyên phân, số NST đơn môi trường nội bào cần cung cấp: $2^k.2n-2n =  (2^k-1)2n$. + Vậy, a tế bào có 2n NST đều nguyên phân k lần, môi trường cần cung cấp số NST là: $a.(2^k-1)2n$. Số thoi vô sắc xuất hiện, bị phá hủy: + Thoi vô sắc xuất hiện ở kì trước, bị phân hủy hoàn toàn vào kì cuối. Vậy có ba

Tính số loại và tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con

Vận dụng toán xác suất để giải nhanh các bài tập sinh học phần quy luật phân li độc lập như: xác định số loại kiểu gen, kiểu hình ở đời con hay tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con trong các phép lai khi biết kiểu gen của bố mẹ mà không cần viết sơ đồ lai. Theo quy luật phân li độc lập ta hiểu rằng: một phép lai có n cặp tính trạng, thực chất là n phép lai một cặp tính trạng. Như vậy khi đề bài cho biết kiểu gen có bố mẹ và tuân theo quy luật phân li độc lập thì ta chỉ cần dung toán xác suất để xác định nhanh số loại cũng như tỉ lệ kiểu gen, kiểu hình ở đời con theo quy tắc sau: Tỉ lệ KG khi xét chung nhiều cặp gen bằng các tỉ lệ KG riêng rẽ của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau. Số KH khi xét chung nhiều cặp tính trạng bằng số KH riêng của mỗi cặp tính trạng nhân với nhau. Ví dụ:  Cho biết A - hạt vàng : a- hạt xanh; B- hạt trơn : b - hạt nhăn; D - thân cao : d- thân thấp. Tính trạng trội là trội hoàn toàn. Phép lai P: AabbDd x AaBbdd  sẽ cho số loại và tỉ lệ kiểu g

Chu kỳ tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân

Trong chương trình sinh học lớp 10 thì nội dung về chu kỳ tế bào, nguyên phân và giảm phân các em cần học kỹ và làm bài tập liên quan. Đây là kiến thức hết sức quan trọng để có thể học tiếp những kiến thức liên quan ở lớp tiếp tiếp theo. Cơ chế nguyên phân Cơ chế giảm phân Kiến thức các em đọc ở sách giáo khoa sinh học lớp 10, ở phần này tác giả chỉ trích một số câu hỏi thường gặp trong nội dung chuyên đề chu kỳ tế bào, quá trình nguyên phân và giảm phân. Câu 1. Trình bày khái niệm và nêu những giai đoạn của chu kì tế bào? – Chu kì tế bào là khoảng thời gian giữa 2 lần phân bào liên tiếp. Một chu kì tế bào bao gồm kì trung gian và quá trình nguyên phân. Kì trung gian gồm ba pha theo thứ tự là G1 , S, G2, trong đó pha G1 là thời kì sinh trưởng chủ yếu của tế bào; pha S diễn ra sự nhân đôi của ADN và nhiễm sắc thể. Kết thúc pha S, tế bào sẽ chuyển sang pha G2, lúc này tế bào sẽ tổng hợp tất cả những gì còn lại cần cho quá trình phân bào. Nguyên phân diễn ra ngay sau pha G2

Bài tập liên quan đến chu kì tim

Dạng bài tập liên quan đến chu kì tim thuộc chủ đề sinh lí tuần hoàn ở phần sinh lí động vật trong chương trình sinh học lớp 11. Phần bài tập này thường được ra trong các kì thi HSG cấp trường, cấp tính môn sinh học. Như chúng ta đã biết, đối với người trưởng thành (bình thường) thì mỗi chu kì tìm gồm có 3 pha (pha co tâm nhĩ, pha co tâm thất và pha dãn chung) với tổng thời gian của một chu kì tim là 0,8 giây. Trong đó: Pha co tâm nhĩ: 0,1 giây Pha co tâm thất: 0,3 giây Pha giãn chung: 0,4 giây Những động vật khác cũng tương tự, trong mỗi chu kì tìm cũng gồm 3 pha nhưng thời gian mỗi pha cũng như tổng thời gian của mỗi chu kì là có thể khác nhau ở các loài động vật khác nhau. Nêu như thời gian của mỗi chu kì tim càng ít thì số nhịp tim (số chu kì tim) trong mỗi phút (60 giây) càng cao và ngược lại. Nếu gọi: Q: lưu lượng máu đẩy vào động mạch / phút (lưu lượng tim). Qs: lượng máu bơm vào động mạch / chu kì tim. f: số chu kì tìm/phút (số nhịp tim). V1: thể tích m

Vai trò của thận và gan trong cần bằng áp suất thẩm thấu

Môi trường bên trong cơ thể sinh vật (nội môi) nói chung và cơ thể người nói riêng luôn được duy trì ổn định. Ví dụ như người trưởng thành có nhiệt độ thân nhiệt khoảng 37,5 độ C, áp suất thẩm thấu trong máu và dịch mô khoảng 0,9atp, nồng độ gulozo (đường) trong máu khoảng 108 - 140mg/dl, nồng độ pH khoảng 7.35 – 7.45 ... Điều gì xảy ra nếu như các điều kiện lí hóa bên trong cơ thể chúng ta không còn ở trong vùng bình thường? Khi cơ thể chúng ta nhiệt độ quá cao hay quá thấp; điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ đường trong máu luôn quá cao hay quá thấp; điều gì sẽ xảy ra khi áp suất thẩm thấu trong cơ thể luôn cao hay thấp hơn mức bình thường? Câu trả lời chung là cơ thể không còn khỏe mạnh (hay là đã bị bệnh). Trong nội dung bài này chúng ta cùng nhau tìm hiểu có chế để cân bằng áp suất thẩm thấu trong trong môi trường bên trong cơ thể mà cụ thể là trong máu (dịch tuần hoàn). Áp suất thẩm thấu trong máu phụ thuộc vào lượng nước và nồng độ các chất hòa tan trong máu mà chủ yếu là hà

Hướng dẫn giải chi tiết đề thi THPT Quốc Gia 2019 môn SINH HỌC

Bài giải chi tiết đề thi THPT Quốc Gia 2019 môn Sinh học - mã đề 218. Ban biên tập sẽ cập nhật thêm bài phân tích kèm lời giải chi tiết cho những câu khó trong đề. 1. Nội dung đề thi sinh học 2019 - mã 218 Câu 81: Cà độc dược có bộ NST 2n=24. Theo lí thuyết, số nhóm gen liên kết của loài này là: A. 8. B. 12. C. 16. D. 24 Câu 82: Theo vĩ độ, rừng mưa nhiệt đới (rừng ẩm thường xanh nhiệt đới) là khu sinh học phân bố ở vùng nào sau đây? A. Cận Bắc Cực. B. Bắc Cực. C. Nhiệt đới. D. Ôn đới. Câu 83: Trong quá trình phiên mã, nuclêôtit loại U ở môi trường nội bào liên kết bổ sung với loại nuclêôtit nào của gen? A. T. B. A. C. X. D. G. Câu 84: Sinh vật nào sau đây có cặp NST giới tính ở giới cái là XX và giới đực là XY? A. Thỏ. B. Bướm. C. Chim. D. Châu chấu. Câu 85: Quá trình chuyển hóa $NH_4^+$ thành $NO_3^-$ do hoạt động của nhóm vi khuẩn A. cố định nitơ. B. nitrat hóa. C. amôn hóa. D. phản nitrat hóa. Câu 86: Trong ống tiêu hóa củ

Phương pháp giải bài tập sinh học: Tìm xác suất xuất hiện số alen trội, lặn ở đời con

Tìm xác suất xuất hiện số alen trội, lặn ở thế hệ con trong phép lai thuộc quy luật di truyền phân li độc lập là dạng bài tập sinh học khó . Nếu chúng ta dùng phương pháp chia riêng từng cặp gen để tính sau đó gộp lại thì  tốn khá nhiều thời gian mà dễ nhầm lẫn. Vì vậy hôm tôi cố gắng tìm công thức chung áp dụng cho mọi trường hợp của đề bài một cách nhanh chóng.  Ở dưới tôi đã đưa ra công thức chung (sẽ chứng minh công thức trong một chuyên đề khác để các bạn cần tìm hiểu chuyên sâu) có kèm theo 2 ví dụ điển hình. Sau khi hiểu công thức các bạn vận dụng để làm 5 bài tập vận dụng có đáp án kèm theo. Các bạn cần trao đổi thêm vui lòng phản hồi (comment) ở cuối bài viết. Toán xác suất trong di truyền học phân tử A. Phương pháp chung: Ở phép lai mà tổng số cặp gen dị hợp của bố và mẹ là n , thì ở đời con loại cá thể có k  alen trội chiếm tỉ lệ $\frac{C_{n}^{k-m}}{2^n}$. Trong đó m là số cặp gen đồng hợp trội ở cả bố và mẹ. Ví dụ 1: Ở phép lai AaBbdd x AabbDd, loại cá th

Bài tập di truyền quần thể ngẫu phối khi có tác động của chọn lọc tự nhiên

Giả sử thế hệ xuất phát của một quần thể ngẫu phối có tần số alen A là p ; tần số alen a là q và chọn lọc tự nhiên loại bỏ hoàn toàn kiểu hình động hợp lặn (kiểu gen aa bị chết ở giai đoạn phôi) thì tần số alen và thành phần kiểu gen qua các thế hệ ngẫu phối như sau: Bài tập trắc nghiệm về quần thể ngẫu phối Quá trình ngẫu phối thì $F_1$ sẽ có thành phần kiểu gen là $p^2$ AA : 2pq Aa : $q^2$ aa . Do aa bị chết ở giai đoạn phôi nên tỉ lệ kiểu gen ở $F_1$ là: $p^2$ AA : 2pq Aa , suy ra tần số alen ở $F_1$ là: Tần số alen a = $\frac{pq}{p^2+2pq}=\frac{q}{1+q}$ n số alen A = $1-\frac{q}{1+q}=\frac{1}{1+q}$ Thành phần kiểu gen ở thế hệ F2 là: ${{\left( \frac{1}{1+q} \right)}^{2}}$AA : $2\frac{1}{1+q}\frac{q}{1+q}$Aa : ${{\left( \frac{q}{1+q} \right)}^{2}}$aa Vì aa bị chết ở giai đoạn phối nên thành phân kiểu gen của $F_2$ là: $\frac{1}{1+2q}$AA : $\frac{2q}{1+2q}$Aa, suy ra tần số alen ở $F_2$ là: Tần số alen a = $\frac{q}{1+2q}$ Tần số alen A = $\frac{1+q}{1+2q}$ Qu

Công thức tính áp suất thẩm thấu của tế bào

Một dung dịch đường glucozơ có nồng độ 0,01M. Hãy xác định áp suất thẩm thấu của dung dịch ở nhiệt độ 25 độ C? Thư của bạn Hoàng Yến Hướng dẫn cho bạn Hoang Yến: Bài này ta dung công thức tính áp suất thẩm thấu (ASTT) của tế bào như sau: P = RTCi = 0,82.(273+25).0,01.1 = 0,24354 (atm) Công thức tính áp suất thẩm thấu (ASTT) của tế bào như sau: P = RTCi P : Áp suất thẩm thấu (atm) R : hăng số ≈ 0,082 amt/độ K.mol T : nhiệt độ tuyệt đối ( º K) = ( º C) + 273 C : nồng độ mol/l; C = n/V; n: số mol chất tan; V: thể tích dung dịch i: hệ số Van Hôp, lượng tiểu phân chất tan phân ly và tái hợp khi tan vào dung mô:   i = 1 + α(n-1) i = (n/n0)(ν-1) + 1 =  α (ν-1) + 1 α  = n/n0 n: số mol chất đã điện li n0: tổng số mol chất hòa tan v: số ion tạo ra từ 1 phân tử chất điện li. Áp suất thẩm thấu của dung dịch lỏng chứa chất tan không điện li thỏa mãn phương trình: P = CRT Thay C = n/V = m/MV à ta được: PV = (m/M)RT V: thể tích dung dịch (lít) chứa m gam chất tan. M: Khối lượng phân t